Hàng hóa trên thị trường tài chính

Hàng hóa trên thị trường tài chính, khái niệm: Tên gọi Nếu thị trường hàng hữu hình mua và bán các loại sản vật cụ thể, nhìn thấy được, sờ được như: lúa, gạo, vải vóc, nhà cửa, xe cộ, sách vở, giày dép, tàu bè, máy bay… nghĩa là các loại hàng hóa hữu hình đúng như tên riêng dành cho thị trường, thì thị trường tài chính (Financial Market) là nơi buôn bán các loại hàng hóa theo đúng đặc trưng của nó. Đó là tài chính (Finance). Trước đây đã từng có quan niệm hẹp theo nghĩa “chữ” tài chính là tiền, của. Từ khi các loại công cụ tài sản khác như phiếu nợ, chứng thư bất động sản… cũng được đem ra thương lượng, thế chấp, mua bán, khái niệm tài chính bắt đầu được hiểu theo những nghĩa rộng hơn. Một cách vô tình, ở nhiều nước, người ta đi đến thống nhất tài chính là khái niệm chỉ các loại tài sản. Tiền cũng là một loại tài sản. Các loại tài sản này khi được huy động vào chu chuyển kinh doanh, nó có thêm (chứ không phải là thay đổi) tên gọi là vốn (Capital). Một cách tóm tắt, gọi thị trường tài chính là thị trường mua bán các công cụ tài chính cũng được. Nhưng để đầy đủ hơn, gọi nó là thị trường tài sản khác hàng hữu hình thì chính xác và khái niệm này hiện là cách gọi thông dụng nhất ở Âu – Mỹ.

Hàng hóa trên thị trường tài chính bao gồm:

Trên thị trường vốn

  • Trái phiếu
  • Cổ phiếu
  • Chứng khoán cầm cố bất động sản

Trên thị trường tiền tệ

  • Tín phiếu kho bạc
  • Chứng chỉ tiền gửi
  • Thương phiếu
  • Thuận nhận của ngân hàng

Công cụ tài chính phái sinh

  • Hợp đồng kỳ hạn
  • Hợp đồng giao sau
  • Hợp đồng hoán đổi
  • Hợp đồng quyền chọn
Posted in Tong quan ve ngan hang thuong mai - Chương 1 | Để lại bình luận

Nguồn vốn của Ngân Hàng Thương Mại

Nguồn vốn của Nhân Hàng Thương Mại bao gồm 5 loại nguồn vốn như sau

  1. Vốn chủ sở hữu – Vốn cổ phần
  2. Vốn đi vay
  3. Vốn huy động
  4. Vốn tiếp nhận
  5. Vốn khác

Nguồn vốn của Ngân Hàng Thương Mại
Vốn điều lệ
Vốn điều lệ là số vốn ban đầu được ghi trong điều lệ hoạt động của các Nguồn vốn của Ngân Hàng Thương Mại và số vốn điều lệ tối thiểu phải bằng vốn pháp định do chính phủ qui định (vốn pháp định là mức vốn do ngân hàng Nhà nước công bố vào đầu mỗi năm tài
chính). Vốn điều lệ là điều kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập một ngân hàng. Nguồn hình thành vốn điều lệ phụ thuộc vào tính chất sở hữu của từng loại hình ngân hàng, chẳng hạn như Nguồn vốn của Ngân Hàng Thương Mại quốc doanh do ngân sách Nhà nước cấp, các Nguồn vốn của Ngân Hàng Thương Mại cổ phần do các cổ đông đóng góp, ngân hàng liên doanh thì do các bên liên doanh đóng góp… Vốn điều lệ qui định cho một ngân hàng nhiều hay ít tùy thuộc vào qui mô và phạm vi hoạt động. Vốn điều lệ sẽ được bổ sung và tăng dần dưới các hình thức: huy động vốn từ các cổ đông, ngân sách cấp, lợi nhuận bổ sung…
Ngoài vốn điều lệ, Nguồn vốn của Ngân Hàng Thương Mại còn có các quỹ dự trữ ngân hàng ( đây là quỹ bắt buộc phải trích lập trong quá trình tồn tại và hoạt động của ngân hàng ), quỹ phát triển kỹ thuật, quỹ khấu hao tài sản cố định, quỹ bảo toàn vốn, quỹ phúc lợi… Các quỹ dự trữ của ngân hàng còn được coi là nguồn tự có và được bổ sung hàng năm từ lợi nhuận ròng của ngân hàng.
Vốn huy động
Một số nguồn vốn huy động chủ yếu của ngân hàng thương mại: tiền gửi thanh toán của các tổ chức kinh tế, tiền gửi tiết kiệm, vốn huy động từ bằng chứng từ có giá.
Tiền gửi thanh toán của các tổ chức kinh tế
Các tổ chức kinh tế (TCKT) trong quá trình hoạt động muốn thực hiện giao dịch với Nguồn vốn của Ngân Hàng Thương Mại nào đòi hỏi họ phải mở tài khoản tại Nguồn vốn của Ngân Hàng Thương Mại đó. Việc mở tài khoản này giúp TCKT bảo quản an toàn tiền vốn đồng thời qua đó TCKT có thể nhận được các dịch vụ tài chính từ Nguồn vốn của Ngân Hàng Thương Mại. Về phía Nguồn vốn của Ngân Hàng Thương Mại, việc mở và gửi tiền vào tài khoản của các TCKT giúp cho Nguồn vốn của Ngân Hàng Thương Mại có thể sử dụng được nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để bổ sung nguồn vốn tín dụng. Tiền gửi thanh toán của khách
hàng bao gồm tiền gửi thanh toán không kỳ hạn và tiền gửi thanh toán có kỳ hạn.
– Tiền gửi thanh toán không kỳ hạn: là hình thức tiền gửi mà khách hàng có thể rút vốn ra bất kỳ lúc nào không cần báo trước cho ngân hàng. Mục đích của loại tiền gửi này là nhằm đảm bảo an toàn về tài sản, thực hiện các khoản chi trả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như các khoản thanh toán trong tiêu dùng của cá nhân đồng thời hạn chế được chi phí tổ chức thanh toán, bảo quản tiền và vận chuyển tiền. Đối với bộ phận vốn này không ổn định nên ngân hàng phải thường dự trữ lại với số lượng rất lớn để đáp ứng yêu cầu của khách hàng do đó ngân hàng thường áp dụng lãi suất thấp cho loại tiền gửi này.
– Tiền gửi thanh toán theo kỳ hạn: là loại tiền gửi mà khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng có sự thỏa thuận với ngân hàng để chọn một loại thời hạn gửi tiền thích hợp. Theo nguyên tắc, đối với loại tiền gửi này, người gửi tiền chỉ được rút ra khi đến hạn. Tuy nhiên, trên thực tế do áp lực cạnh tranh mà ngân hàng cho phép khách hàng rút trước kỳ hạn. Trong trường hợp này, người gửi không được hưởng lãi như tiền gửi có kỳ hạn mà sẽ được áp dụng với lãi suất không kỳ hạn
nếu rút ra truớc khi đáo hạn. Đây là nguồn vốn rất ổn định vì ngân hàng biết trước thời điểm mà khách hàng sẽ rút tiền ra nên ngân hàng thường đưa ra nhiều loại kỳ hạn khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu gởi tiền của khách hàng.
Tiền gửi tiết kiệm:
Đây là hình thức huy động tiền gửi theo kiểu truyền thống của ngân hàng. Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền gửi của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo qui định của ngân hàng nhận gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo qui định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi. Mục đích của người gửi tiết kiệm là để hưởng lãi và tích lũy.
Xét về tính chất kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm cũng được chia thành hai loại:
– Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền có thể gửi tiền, rút tiền theo yêu cầu mà không cần báo trước vào bất kỳ ngày làm việc nào của ngân hàng nhận gửi tiền. Do đó ngân hàng không chủ động được nguồn vốn nên loại tiền gửi này có lãi suất thấp. Khi gửi tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, khách hàng sẽ được ngân hàng cấp một sổ tiền gửi tiết kiệm. Sổ tiền gửi tiết kiệm này sẽ phản ánh tất cả các giao dịch gửi tiền, rút tiền, tiền lãi được
hưởng, số dư hiện có.
– Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi chỉ rút tiền sau một kỳ hạn gửi tiền nhất định theo thỏa thuận với ngân hàng nhận gửi tiết kiệm. Trường hợp người gửi tiền rút tiền trước hạn thì tùy theo sự thỏa thuận
giữa người gửi tiền và ngân hàng khi gửi mà người gửi tiền được hưởng theo lãi suất không kỳ hạn. Khi gửi tiền tiết kiệm có kỳ hạn thì ngân hàng cũng được ngân hàng cấp một sổ tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn.

Nguồn vốn huy động bằng chứng từ có giá
Giấy tờ có giá là chứng nhận của tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn, trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời gian nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa các tổ chức tín dụng
và người mua. Ở Việt Nam hiện nay, khi các Nguồn vốn của Ngân Hàng Thương Mại cần huy động số vốn lớn trong thời gian ngắn thì ngân hàng có thể phát hành các loại giấy tờ có giá như kỳ phiếu ngân hàng có mục đích, trái phiếu ngân hàng và chứng chỉ tiền gửi.
Vốn điều chuyển
Vốn điều chuyển là nguồn vốn mà chi nhánh điều chuyển từ hội sở hay các chi nhánh khác trong cùng hệ thống khi nguồn vốn huy động không đủ để đáp ứng cho nhu cầu kinh doanh của ngân hàng. Vốn điều chuyển không thuộc bộ
phận nguồn vốn của ngân hàng thương mại mà nó chỉ tồn tại ở các chi nhánh ngân hàng. Nguồn vốn điều chuyển có lãi suất cao hơn vốn huy động, chênh lệch với lãi suất cho vay theo biên độ không được vượt quá 0,3%.
Các nguyên tắc quản lý tiền gửi của khách hàng:
+ Ngân hàng chỉ được thực hiện các khoản giao dịch trên tài khoản của khách hàng khi có lệnh của chủ tài khoản hoặc có sự uỷ nhiệm của chủ tài khoản. Ngoại trừ trường hợp khách hàng vi phạm luật chi trả và theo quy định của cơ quan có thẩm quyền thì Ngân hàng mới có quyền tự động trích các tài khoản tiền gửi của khách hàng để thực hiện các khoản thanh toán có liên quan.
+ Ngân hàng phải đảm bảo an toàn và bí mật cho chủ tài khoản.
+ Ngân hàng phải có trách nhiệm kiểm soát các giấy tờ thanh toán của khách hàng, các chứng từ thanh toán phải được lập theo đúng quy định. Ngân hàng kiểm tra con dấu, chữ ký của khách hàng, nếu không phù hợp thì Ngân
hàng có thể từ chối thanh toán.
+ Khi có các nghiệp vụ liên quan đến tài khoản của khách hàng thì Ngân hàng phải kịp thời gửi giấy báo có cho khách hàng. Cuối tháng, Ngân hàng phải gửi bản sao tài khoản hoặc giấy báo số dư cho khách hàng.
Vai trò của công tác huy động vốn
Đối với các ngân hàng thương mại
Huy động vốn là nghiệp vụ quan trọng không thể thiếu song hành với nghiệp vụ tín dụng trong ngân hàng thương mại. Đây là nghiệp vụ tạo vốn cho hầu hết các hoạt động của ngân hàng. Khi thành lập ngân hàng đã có vốn ban đầu, nhưng số ban đầu này đã ở dạng vật chất như trụ sở, công cụ, dụng cụ…Vì vậy, để đảm bảo chức năng cung cấp vốn cho nền kinh tế ngân hàng phải thu hút vốn từ bên ngoài.
Đã từ lâu các ngân hàng thương mại đã biết khai thác nguồn vốn này. Do đây là nguồn vốn huy động chủ yếu nên thu hút càng nhiều vốn thì ngân hàng thương mại càng có khả năng đạt lợi nhuận cao hơn vì có vốn mạnh ngân hàng dễ dàng đẩy mạnh nghiệp vụ cho vay và mở rộng thêm các hoạt động sinh lời khác.
Đối với nền kinh tế
Thông qua việc huy động vốn mà các ngân hàng đã và đang thực hiện các dịch vụ trung gian trong nền kinh tế quốc dân, có huy động vốn thì nguồn vốn mới tăng lên. Do vậy, vốn đầu tư được mở rộng, hoạt động sản xuất kinh doanh được kích thích, sản phẩm xã hội tăng lên, từ đó mà đời sống nhân dân được cải thiện. Việc huy động vốn của ngân hàng thương mại có ý nghĩa quan trọng đối với toàn bộ nền kinh tế, thông qua con đường tín dụng nó tài trợ cho các hoạt động công thương nghiệp, nông lâm ngư nghiệp của cả nước.
Thực tế cho thấy dù các doanh nghiệp lớn mạnh cũng không thể có một lượng vốn lớn hơn tổng số tiền dự trữ của dân chúng. Mỗi người trong xã hội chỉ có một số tiền nhỏ nhưng tập hợp lại sẽ trở thành một nguồn vốn lớn. Thông qua các hình thức huy đông vốn, phần lớn số vốn tích trữ tập trung qua hệ thống ngân hàng và đưa vào công cuộc đầu tư mang tính chất sản xuất tạo ra của cải cho xã hội. Mặt khác, nhờ vào việc huy động vốn ngân hàng thương mại mới làm tốt chức năng trung gian tín dụng điều hòa tiền tệ từ nơi tạm thời thừa đến nơi tạm thời thiếu, có như vậy người dân mới được cấp tín dụng, mới có khả năng trang bị đầu vào cho hoạt động sản xuất kinh doanh.

Các tìm kiếm liên quan đến nghiep vu ngan hang thuong mai

bai tap nghiep vu ngan hang thuong mai,tài liệu nghiệp vụ ngân hàng thương mại,trac nghiem nghiep vu ngan hang thuong mai,de thi nghiep vu ngan hang thuong mai,sach nghiep vu ngan hang thuong mai, nghiep vu ngan hang thuong mai download, tai lieu ngan hang thuong mai, nghiệp vụ ngân hàng thương mại nguyễn minh kiều

Posted in Nghiep vu huy dong von va dich vu ngan hang - Chương 2 | Để lại bình luận

Cơ cấu tổ chức bộ máy ngân hàng thương mại

Cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước ngân hàng thương mại quan trong ở 2 bộ máy như sau

Hội đồng quản trị (HĐQT)

  • HĐQT là bộ máy quyền lực cao nhất của NHTM.Mọi hoạt động của NH đều đặt dưới quyền quảntrị của HĐQT
  • Đối với NHTM Nhà nước: toàn bộ thành viên của HĐQT do Chính phủ quyết định bổ nhiệm hoặc
  • chính phủ ủy nhiệm cho Thống đốc NHNN quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm sau khi có thoả thuận với Ban Tổ chức –Cán bộ Chính phủ. Nhiệm kỳ của HĐQT là 5 năm, thành viên HĐQT từ 5-7 người.
  • Đối với NHTM Cổ phần : HĐQT do đại diện cổ đông bầu ra, thành viên 3-11 người, nhiệm kỳ 2-5 năm.

Ban Điều hành:

  • Điều hành hoạt động của NH đặt dưới quyền của Tổng giám đốc hoặc giám đốc.
  • Đối với NHTMQD: Tổng giám đốc và các phó TGĐ do Chính phủ hoặc Thống đốc bổ nhiệm
  • Đối với NHTM khác: Tổng giám đốc, các phó TGĐ do HĐQT bổ nhiệm và được Thống đốc chuẩn y.

Posted in Tong quan ve ngan hang thuong mai - Chương 1 | Để lại bình luận

Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam

Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam bao gồm:

  1. Ngân hàng Thương Mại Nhà nước (NHTM Quốc Doanh)

    VCB- Vietcombank-Bank for Foreign Trade ofVietnam
    VBARD-Agribank- Bank for Agriculture and Ruraldevelopment
    ICBV- Incombank- Industrial and commercial Bank of Vietnam
    BIDV- Bank for Investment and development of Vietnam
    NH PHÁT TRIỂN NHÀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

  2. Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần (NHTMCP)

  3. Ngân hàng liên doanh

  4. Chi nhánh ngân hàng nước ngoài (NHNNg)

  5. Ngân hàng 100% vốn nước ngoài (chưa có)

    Các tìm kiếm liên quan đến nghiep vu ngan hang thuong mai

    bai tap nghiep vu ngan hang thuong mai,tài liệu nghiệp vụ ngân hàng thương mại,trac nghiem nghiep vu ngan hang thuong mai,de thi nghiep vu ngan hang thuong mai,sach nghiep vu ngan hang thuong mai, nghiep vu ngan hang thuong mai download, tai lieu ngan hang thuong mai, nghiệp vụ ngân hàng thương mại nguyễn minh kiều

Posted in Tong quan ve ngan hang thuong mai - Chương 1 | Để lại bình luận

Chức năng của ngân hàng thương mại

Chức năng của ngân hàng thương mại

chuc nang cua ngan hang thuong mai la gi

1, Chức năng trung gian tín dụng (Banks as Financial intermediaries)

Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại [4]. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay.

2, Chức năng trung gian thanh toán

Ở đây ngân hàng thương mại đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Các ngân hàng thương mại cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp. Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán. Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn. Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế.

3, Chức năng tạo ra tiền bút tệ theo cấp số nhân

Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của ngân hàng thương mại. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các ngân hàng thương mại với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của ngân hàng thương mại là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội.


4, Chức năng cung cấp dịch vụ tài chính

Các tìm kiếm liên quan đến nghiep vu ngan hang thuong mai

bai tap nghiep vu ngan hang thuong mai,tài liệu nghiệp vụ ngân hàng thương mại,trac nghiem nghiep vu ngan hang thuong mai,de thi nghiep vu ngan hang thuong mai,sach nghiep vu ngan hang thuong mai, nghiep vu ngan hang thuong mai download, tai lieu ngan hang thuong mai, nghiệp vụ ngân hàng thương mại nguyễn minh kiều


Posted in Tong quan ve ngan hang thuong mai - Chương 1 | Để lại bình luận

Khái niệm về ngân hàng thương mại

ngan hang thuong mai
  • Ngân hàng thương mại là tổ chức tài chính tiền gởi và cho vay tiền.
  • Ngân hàng thương mại là nơi trực tiếp giao dịch với công chúng để nhận ký thác, cho vay và cung ứng những dịch vụ tài chính.
  • Theo tinh thần Luật các Tổ chức tín dụng (công bố ngày 26/12/1997) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các Tổ chức tín dụng (có hiệu lực thi hành ngày 01/10/2004): Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gởi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán, và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan.
  • Tại Mỹ, bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gởi cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu và cho vay đối với các tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại sẽ được xem là một ngân hàng. 
  • ==> Như vậy, chúng ta có thể đưa ra khái niệm chung nhất về Ngân hàng thương mại: Ngân hàng là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh về tiền tệ với hoạt động thường xuyên là huy động vốn, cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, cung cấp các dịch vụ tài chính và các hoạt động khác có liên quan. NHTM là tổ chức tài chính trung gian cung cấp danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất. (Financial department stores-a full service Financial institution) với tổng tài sản của 1 ngân hàng lên đến 1000 tỷ USD (Citigroup – 1264 tỷ USD với trên 4000 chi nhánh tại 100 quốc gia, quản lý 200 triệu tài khoản khách hàng, mỗi ngày thu lợi nhuận 49 triệu USD, Credit Agricole Groupe, HSBC, Bank of America Corp, ..VCB khoảng trên 6 tỷ USD).
  • Các tìm kiếm liên quan đến nghiep vu ngan hang thuong mai

    bai tap nghiep vu ngan hang thuong mai,tài liệu nghiệp vụ ngân hàng thương mại,trac nghiem nghiep vu ngan hang thuong mai,de thi nghiep vu ngan hang thuong mai,sach nghiep vu ngan hang thuong mai, nghiep vu ngan hang thuong mai download, tai lieu ngan hang thuong mai, nghiệp vụ ngân hàng thương mại nguyễn minh kiều

Posted in Tong quan ve ngan hang thuong mai - Chương 1 | Để lại bình luận

Bài mở đầu Nghiệp vụ ngân hàng

Môn học Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại giúp học viên tìm hiểu chuyên sâu các nghiệp vụ của ngân hàng: huy động vốn, dịch vụ của ngân hàng, tín dụng, bảo lãnh, thanh toán… và các nghiệp vụ ngân hàng trên thị trường tài chính. Từ đó giúp học viên gắn hoạt động của doanh nghiệp với những dịch vụ của ngân hàng một cách thuận lợi và nhanh chóng.
Nội dung môn học bao gồm 4 chương:

  • Chương một: Tổng quan về ngân hàng thương mại
  • Chương hai: Nghiệp vụ huy động vốn và các dịch vụ tài chính của ngân hàng thương mại.
  • Chương ba: Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
  • Chương bốn: Nghiệp vụ ngân hàng thương mại trên thịtrường hối đoái và thị trường chứng khoán.

Tài liệu tham khảo môn Nghiệp Vụ ngân hàng Thương mại

  • Luật Ngân hàng Nhà Nước và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật NHNN (có giá trị hiệulực từ ngày 01/08/2003)
  • Luật các Tổ chức tín dụng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các TCTD (có giá trị hiệu lực từ ngày 01/10/2004)
  • Tiền tệ ngân hàng
  • Thanh toán quốc tế (PGS-TS Trần Hoàng Ngân)
  • Website: http://www.sbv.gov.vn và Website các NHTM VCB, ACB, EAB, VBARD, VIDB, VICB, SCB,…
  • Các tìm kiếm liên quan đến nghiep vu ngan hang thuong mai

    bai tap nghiep vu ngan hang thuong mai,tài liệu nghiệp vụ ngân hàng thương mại,trac nghiem nghiep vu ngan hang thuong mai,de thi nghiep vu ngan hang thuong mai,sach nghiep vu ngan hang thuong mai, nghiep vu ngan hang thuong mai download, tai lieu ngan hang thuong mai, nghiệp vụ ngân hàng thương mại nguyễn minh kiều

Posted in Tong quan ve ngan hang thuong mai - Chương 1 | 1 Phản hồi